Hướng dẫn cách chuẩn bị và thực hiện Bốc mộ, cải táng, sang cát

Nơi an nghỉ cuối cùng vốn được coi là nơi cực kỳ quan trọng cho người đã khuất nên khi gia chủ có ý định cải táng cho người thân đã khuất thì cần tìm hiểu kỹ lưỡng.
Gần đến cuối năm vào mùa cải táng mộ phần thường diễn ra ở miền bắc, trong bài viết này từ kinh nghiệm thực tế đã được đúc kết để quý độc giả tham khảo. Nơi an nghỉ cuối cùng theo quan niệm của ông cha ta là nơi tối quan trọng cho người đã khuất và người đang sống, trước là thể hiện sự hiếu thảo của gia đạo, mong muốn đem lại những gì tốt đẹp nhất cho người quá cố , sau là để mong người quá cố phù hộ độ trì cho con cháu mạnh khỏe làm ăn phát đạt chính vì như thế nên đã cải táng thì ta hết sức phải cân nhắc chuẩn bị kỹ lưỡng.
Khi gia đình có việc sang cát bốc mộ chúng ta nên biết và chuẩn bị làm những việc sau đây :

Tại sao phải cải táng?

Xin trích một đoạn trong “Việt Nam Phong tục” của Phan Kế Bính: “… Cải táng có nhiều cớ.
– Một là vì nhà nghèo, khi cha mẹ mất, không tiền lo liệu, mua tạm một cỗ ván xấu, đợi xong ba năm thì cải táng, kẻo sợ ván hư nát thì hại đến di hài.
– Hai là vì chỗ đất mối kiến, nước lụt thì cải táng.
– Ba là vì, các nhà địa lý phong thủy xưa cho biết, thấy chỗ mả vô cớ mà sụt đất hoặc cây cối ở trên mả tự nhiên khô héo, hoặc trong nhà có kẻ dâm loạn điên cuồng, hoặc trong nhà đau ốm liên miên, hoặc trong nhà có kẻ nghịch ngợm, sinh ra kiện tụng lôi thôi, thì cho là tại đất mà cải táng.
– Bốn là, những người muốn cầu công danh phú quý, nhờ thầy địa lý tìm chỗ cát địa mà cải táng.
– Lại có người thấy nhà khác phát đạt, đem mả nhà mình táng gần vào chỗ mả nhà kia, để cầu được hưởng dư huệ…”.

Phong tục cải táng khởi nguồn từ thời Bắc thuộc khi quan lại và thương lái Trung Quốc chết tại Nam mà gia đình có nhu cầu đưa xương cốt về chính quốc. Về sau thành lệ và thành phong tục, cũng do yếu tố địa lý Đồng bằng Bắc Bộ phần nhiều là đất pha cát phù sa, khi chôn người chết xuống phần nhiều là tiêu hết thịt (thậm chí có chỗ đất còn hao cả xương nếu không cải táng thì chỉ còn đất) mà cát phù sa thì bẩn nên phải tắm rửa thay áo. Trong khi đó gỗ áo quan chôn trên đất tại Đồng bằng Bắc Bộ nhanh hỏng và hay sập ván thiên bởi mùa lũ thì đầy nước, mà mùa cạn thì khô, mối lại hay tụ lại trên chỗ đất cao (mồ mả hay cao hơn ruộng) nên hay xông vào áo quan.

Nói chung, cải táng, sang cát, bốc mộ là một phong tục lâu đời, là thể hiện cái tâm của người sống với người thân đã khuất, an tâm với niềm tin… họ không bỏ người thân trong đất ẩm, mà tặng họ một ngôi nhà mới đẹp đẽ, chắc chắn hơn. Bằng cách bốc mộ giải phóng linh hồn người thân khỏi mộ, người chết có thể biến đổi thành tổ tiên linh thiêng, linh hồn có thể phù hộ cho gia đình được an lành.

Khi nào thì cải táng?
Theo phong tục, người mất sau 3 năm thì cải táng được, cũng là lúc con cháu mãn tang, tức là hoàn toàn hết để tang. Vì thế, việc cải táng thường được tiến hành sau 3 năm chôn hung táng. Tuy nhiên, hiện nay thực tế môi trường địa lý và khí hậu có nhiều thay đổi, các hóa chất được sử dụng nhiều trong đất để phục vụ sản xuất nông nghiệp. Hiện tượng sau 3 năm xác người đã qua đời chưa phân hủy diễn ra khá phổ biến, nên nhiều gia đình lựa chọn giải pháp là để thời gian cải táng lâu hơn, từ 4 đến 5, có thể đến 7 năm để tránh hiện tượng trên.

Năm để tiến hành cải táng phải lựa chọn theo tuổi của người đã qua đời. Ngoài ra còn phải căn cứ theo tuổi của trưởng nam trong nhà. Thời gian tốt nhất trong năm để tiến hành cải táng là từ cuối Thu đến trước ngày Đông Chí của năm.

Theo phong tục, thường nhờ thầy phong thủy xem tuổi của người đã qua đời và tuổi trưởng nam để tìm ngày tốt. Sau khi chọn được ngày bốc mộ, cũng có thể chọn xem giờ bốc mộ, nhưng phải làm vào ban đêm hoặc sáng sớm, khi không có ánh sáng mặt trời, tránh cho xương cốt gặp ánh sáng mặt trời sẽ bị đen, bị hỏng.

Khi nào thì không nên cải táng?
“Trong khi cải táng, tục lại có ba điều là tường thụy (tức là mả phát tốt đẹp) mà không cải táng.
– Một là, khi đào đất thấy có con rắn vàng thì cho là Long xà khí vật.
– Hai là, khi mở quan tài ra thấy có dây tơ hồng quấn quýt thì cho là đất kết.
– Ba là, hơi đất chỗ đó ấm áp, trong huyệt khô ráo không có nước hay là nước đóng giọt lại như sữa đều là tốt. Khi nào gặp như thế thì phải lập tức lấp lại ngay.”
(Trích “Việt Nam phong tục” – Phan Kế Bính).

Theo quan niệm dân gian, mộ kết là mộ đã thụ được Linh khí của Long mạch, tụ khí lại trong mộ và làm cho con cháu trong dòng họ đó làm ăn thuận lợi, gia đình, dòng họ thuận hòa và mạnh khỏe. Nhưng nếu bốc phải mộ kết thì ngược lại.

Có nhiều cách để kiểm tra mộ kết như bằng các phương pháp Cảm xạ, ngoại cảm, cảm nhận trường khí… Cũng có thể quan sát bằng mắt thường sẽ thấy ngôi mộ đó càng ngày càng nở ra do được tích tụ Linh khí của Long mạch, giống như những cái gò thường nổi lên do hiện tượng dư khí của Long mạch trên cánh đồng. Trên các ngôi mộ kết thường cỏ mọc rất nhanh và xanh tốt. Người xưa dùng cách cắm những cành cây khô vào những cuộc đất nghi có mộ kết, nếu những cành khô đó nẩy mầm xanh tốt thì gần như chắc chắn rằng nơi đó có huyệt kết. Một quan sát khác nữa là nhìn những viên đá, bia mộ tại huyệt, nếu mộ kết tức là làm cho những viên đá, bia mộ đó bóng loáng lên như được lau chùi bằng dầu bóng.

Khi gặp trường hợp mộ kết thì tốt nhất là để nguyên không được dịch chuyển, tránh những ảnh hưởng không tốt theo quan niệm dân gian. Nếu bắt buộc phải di dời vì lý do nào đó phải có những phương thức của Huyền môn và Phong thủy rất phức tạp mới có thể di dời. Khi mộ kết, thông thường kết từ chân lên tới đầu, cũng có vài ngôi mộ do kết cấu của Long mạch và của mộ sẽ kết theo chiều ngược lại. Có các dạng kết như kết mạng nhện, kết tơ hồng, kết bang, kết chu sa… Có các màu từ xám đến trắng, hồng, đỏ như chu sa là loại mạnh nhất.

Một loại khác người ta thường hay nhầm với mộ kết là mộ bị phạm trùng. Có nhiều loại trùng nhưng biểu hiện rõ nhất tại mộ là xác chôn qua nhiều năm không tan. Có những khu vực có hàng loạt mộ chôn tới hàng chục năm xác cũng còn gần như nguyên vẹn.

Khi gia đình có việc sang cát bốc mộ chúng ta nên chuẩn bị làm những việc sau đây :
1. Chọn ngày giờ thực hiện công việc
Theo lịch Âm, tháng đủ có 30 ngày, tháng thiếu có 29 ngày. Ta cần phải căn cứ vào 24 tiết khí và nên để ý là đầu tiết khí bao giờ cũng đi liền 2 trực giống nhau, một trực là ngày cuối tháng, một trực là ngày đầu tháng. 12 trực Kiến – Trừ – Mãn – Bình – Định – Chấp – Phá – Nguy – Thành – Thâu – Khai -Bế, mỗi ngày là một trực. Tuổi và ngày nên chọn theo Tam hợp, Lục hợp, Chi đức hợp, Tứ kiểm hợp.Tránh các ngày Lục xung, Lục hình, Lục hại. Về Ngũ hành nên chọn ngày tương sinh hay bình hòa, tránh chọn ngày tương khắc.

Năm để tiến hành cải táng phải lựa chọn theo tuổi của vong, tránh những năm xung sát. Ngoài ra còn phải căn cứ theo tuổi của trưởng nam trong nhà, vì khi vong đã mất thì mọi sự may rủi đều gánh trên vai của người trưởng nam. Năm để tiến hành cải táng cũng phải được phù hợp với tuổi của người trưởng nam.

Sau khi ta chọn được năm thì cũng chọn tháng thường thì chọn các tháng trong phạm vi từ cuối thu đến trước ngày Đông Chí của năm.Tiếp đố chọn ngày giờ để bốc mộ và sang cát tạo huyệt mới “khi chọn giờ, ngày, tháng cũng phải tránh tuổi của vong và con trưởng, cũng như các ngày xấu giờ xấu, phạm nhiều sao xấu, nhưng tất cả cùng phải chung một điều là bốc mộ thường làm vào ban đêm vong hồn không thể tiếp xúc với ánh mặt trời mới cả việc này nhằm tránh cho xương cốt gặp ánh sáng sẽ bị đen đi “thông thường ban ngày làm lễ phạt nấm, sau đó đúng giờ tốt mới bắt đầu mở tấm ván Thiên lên (Tấm ván Thiên là tấm ván trên nóc quan tài).

2. Chọn vị trí địa lý đặt mộ
Khi đã chọn lựa được thời điểm tiến hành thì người trong gia đình sẽ phải chọn lựa một huyệt đất mới để chuyển hài cốt sang. Tất nhiên không phải đất nào cũng an táng lập phần mộ vĩnh cửu được. Ngày xưa, điều kiện đất đai còn rộng lớn thì việc này tương đối dễ dàng. Ngày nay, đất chật người đông, diện tích đất dành cho người chết cũng rất hạn chế. Thường ở địa phương sẽ tiến hành bố trí cho gia đình một huyệt đất mới ở cùng nghĩa trang nơi hung táng. Đối với gia đình phải bắt buộc chôn khi địa phương an bài hoặc có sự chọn lựa trong khu vực đó thì làm như sau:
– Đất chọn huyệt mộ là nơi đất mới chưa từng bị chôn lấp, đào xới là tốt nhất. Khí đất của huyệt tươi tốt, đất rắn chắc tươi tắn. Nếu là vùng đồng bằng thì đất tươi mịn, có mùi thơm, đào lên phía dưới độ 6,70cm đất đặc quánh, có màu vàng nhạt hoặc màu nâu đậm hoặc nên cùng mầu với đất khu vực bản địa. Nếu là miền sơn cước thì đất mịn màng, tuy khô nhưng có màu vàng nhạt “nhưng không được quá khô”.
– Kỵ nhất là huyệt đào là nơi đất tơi xốp khô quá, “không tốt cho xương” hoặc đào lên ở đáy huyệt nếu có mạch nước ngầm chảy xiết dưới huyệt “lâu dài rất dễ trôi mất tiểu mất mộ” trừ khi dòng nước đó được xác định là ” tụ huyệt long thủy lộ” nếu đào có nước ít thì tốt nhưng không được chảy xiết và màu sắc của nước trong, mùi thơm, tránh nước có mùi tanh nồng mùi hôi hoặc mùi khó ngửi. Những huyệt ở đồng bằng thì nên có ít nước ở dưới huyệt, hoặc kị chôn đè lên huyệt cũ của người khác “nếu phải chôn thì chỉ chôn bên cạnh”.
– Ở các vùng nghĩa trang nơi quy tập nhiều mộ, thường bị tình trạng quá tải về diện tích, các mộ chen lấn nhau. Tránh huyệt bị các mộ xung quanh lấn chiếm trước mộ đè lên mộ, hoặc các góc mộ khác chọc vào ngay trước phần mộ, hoặc đâm xuyên vào 2 bên cạnh mộ. Nếu chọn được huyệt phía trước rộng thoáng, lại nhìn ra ao hồ hay sông suối là đẹp nhất. Trường hợp đất đai quá hiếm không chọn được huyệt có phía trước thoáng rộng thì tối thiểu cũng phải có một khoảng đất trống nằm ngay phía trước huyệt mộ.
– Quan sát cẩn thận hệ thống đường đi xung quanh huyệt. Nếu huyệt có đường đi đâm thẳng vào giữa hoặc đâm xuyên sang hai bên thì chủ về phá bại không thể dùng. Đường đi sát ngay phía sau huyệt cũng tối kỵ. Tốt nhất chọn huyệt nơi yên tĩnh xa cách với đường đi lối lại quanh khu vực mộ.
– Ở vùng núi non thì cần thẩm định huyệt theo những tiêu chí của địa lý. Huyệt tìm được những nơi được bao bọc có long hổ hai bên ôm lấy huyệt, phía sau có cao sơn che chắn, phía trước có minh đường thuỷ tụ thì tốt. Sau khi chọn được đất tiến hành xây cất trước khi xây cất ta cũng làm lễ và chọn ngày giờ cẩn thận.
3. Lễ cúng bốc mộ, cải táng 
Trước khi tiến hành bốc mộ , người nhà phải có làm một cái lễ tại gia tiên để trình báo Tổ tiên, phải có văn khấn trước khi bốc mộ. Tại nơi bốc hài cốt ngoài nghĩa trang cũng phải có một cái lễ trình Quan Thần Linh sở tại. Thông thường là một bộ đồ Quan Thần Linh ( Áo , mũ , ủng ), ngựa và 1000 vàng hoa màu đỏ, giấy tiền vàng bạc, trầu cau, rượu, thuốc, đèn nến, gạo muối. Nhiều nhà còn cúng thên Tam sên (trứng vịt luộc + Thịt lơn luộc và một nhúm tôm khô bóc vỏ), xôi, gà trống luộc nguyên con …

Văn khấn cúng Lễ Cải Cát (sang tiểu, sửa mộ, dời mộ) tại gia:
Nam mô A Di Đà Phật!  Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật!
– Con  kính lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.
– Con kính lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương.
– Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân.
– Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ tỷ.
Hôm nay là ngày….tháng…..năm…, tại tỉnh…..huyện…..xã …..thôn….. Hiển khảo (hoặc hiển tỷ)………………………………………mộ tiền.
Than rằng:

Thương xót cha (hay mẹ) xưa, vắng xa trần thế.
Thác về, sống gửi, đất ba thước phải vùi chôn.
Phách lạc hồn bay, hình trăm năm khó gìn để.
Lúc trước việc nhà bối rối, đặt để còn chưa hợp hướng phương.
Tới nay, tìm đất tốt lành, sửa sang lại, cầu an hình thể.
Rày thân: Phần mộ dời xong, lễ Ngu kính tế.
Hồn thiêng xin hưởng, nguyện cầu vĩnh viễn âm phần.
Phúc để di lưu, phù hộ vững bền miêu duệ.
Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật!
Văn khấn Văn khấn cúng Lễ Cải Cát (sang tiểu, sửa mộ, dời mộ)  Tại ban Sơn Thần và Thổ Thần tại nghĩa trang nơi đặt mộ cũ 
Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật!
– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.
– Con kính lạy Đức Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.
– Con kính lạy các ngài Long Mạch, Sơn Thần, Thổ địa, Thần linh cai quản trong xứ này.
Hôm nay là ngày……tháng…..năm…… Tín chủ (chúng) con là:…………………….. Ngụ tại………………………………………………
Chúng con cùng toàn thể gia quyến tuân theo nghi lễ sắn sửa hương hoa lễ vật dâng bầy lên trước án, kính mời chư vị Tôn Thần lai lâm chiếu giám.
Tình cớ chỉ vì gia đình chúng con có ngôi mộ của (đọc tên và địa chỉ của người quá cố) táng tại xứ này, nay muốn cải táng bốc mộ vì vậy chúng con kính cáo đấng thần linh, Thổ Công, Thổ Phủ Long Mạch, tiền Chu Tước, hậu Huyền Vũ, tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ và liệt vị Tôn Thần cai quản ở nghĩa trang này. Thiết nghĩ các ngài tuân chỉ Ngọc Hoàng thượng đế chấn giữ một phương tiều trừ tà tinh ác quỷ, phù hộ muôn dân, hun đúc thần phong linh khí, đức lớn công cao, nhân từ hiếu sinh.
Nay xin thương xót tín chủ chúng con giáng lâm trước án thụ hưởng lễ vật và cho phép gia quyến chúng con bốc mộ của vong linh (tên người đã khuất) vào giờ….ngày…..tháng…..năm…..
Tín chủ thành tâm bái tạ Minh Thần, xin phù hộ cho công việc cải cát được tốt đẹp.
Lòng thành kính cẩn, lễ bạc tâm thành, lượng cả xét soi, cúi xin chứng giám!

Văn khấn cúng Lễ Cải Cát  Tại ban Sơn Thần và Thổ Thần tại nghĩa trang nơi đặt mộ mới
– Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật : 3 lần
– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.
– Con kính lạy Đức Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.
– Con kính lạy các ngài Long Mạch, Sơn Thần, Thổ địa, Thần linh cai quản trong xứ này.
Hôm nay là ngày……tháng…..năm…… Tín chủ (chúng) con là:…………………….. Ngụ tại………………………………………………
Gia đình chúng con có táng (Tên vong  ………………………. húy …. hiệu ….) thọ chung ngày (ngày mất) ở khu đất này, kính dâng lễ vật (………..) lễ nghi các thứ.
Thiết nghĩ :

Đất có dữ có lành
Đều do họa phúc
Kết phát dựa vào âm đức
Cũng nhờ thần lực hiển linh
Ấy thực thường tình
Xiết bao cảm cách.
Những mong mồ yên mả đẹp.
Vậy dâng lễ bạc tâm thành
Nhờ ơn đại đức
Thấu nỗi u tình
Khiến cho vong linh
Được yên nơi chín suối
Phù hộ dương trần con cháu nội, ngoại bình yên.
Chúng con lễ bạc tâm thành cúi xin được phù hộ độ trì
Con Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật : 3 lần
4. Tiểu Quách :  
Tùy theo hoàn cảnh kinh tế của từng gia đình mà chúng ta chọn Tiểu và Quách bằng nhiều vật liệu khác nhau như sành, sứ , xi măng, gỗ…

5. Đồ vật đặt vào tiểu quách : 
– Giấy trang kim
– Vải bọc cốt
– Tiền cổ – đồng trinh
– Thất bảo
– Hoa cúc khô, hoặc hoa nhài khô
– Vải bọc tiểu
– Ngũ vị hương
– Đá thạch anh trắng trải dưới mộ, đá thạch anh ngũ sắc chèn quanh tiểu và trải một ít xuống mộ
– Tiền vàng âm phủ, tiền lẻ mới hiện tại.

6. Đồ dùng, vật dụng khác
Chuẩn bị bạt che, đèn “ánh sáng” 1 miếng vải đỏ, chậu rửa xương rượu khăn lau ni nông trải để xương rổ to đun nhiều nước vang “ngũ vị hương”…tùy hoàn cảnh và địa phương (nếu các mộ chưa tiêu hết mà để lâu năm rồi phải bốc nên chuẩn bị thuốc dã thịt để khỏi phải dóc thịt thuốc có bán tại các nhà tang lễ, ngày nay nếu lỡ bốc lên rồi mà thịt chưa tiêu hết người ta thường đưa đến nhà tang lễ để hỏa táng lấy cốt về táng).
7. Các bước Thực hiện 
– Khi ván Thiên (ván đậy trên nắp quan tài) được cậy ra, người ta phải đổ vài chai rượu có nồng độ cao vào quan tài để tảy rửa âm khí. Sau đó, mới tiến hành lấy cốt, nhiều khi gặp trường hợp hài cốt chưa phân hủy hết. Nếu không có thuốc tiêu thịt thì ta phải dùng xăng đổ vào mộ và đốt cháy thịt còn sót, sau đó phải dùng dao dóc những mảnh thịt còn lại và đem rửa bằng nước vang hoặc mang toàn bộ đi đến nhà tang lễ để hỏa táng).
–  Mọi thứ xương phải kiểm tra cho đủ, không được phép thiếu, có một cách mà dân gian thường sử dụng để kiểm tra đó là : sau khi “đãi cốt” xong, người ta thường cắm một bó hương to giữa lòng đáy huyệt, nếu làn khói quyện lại, bay thẳng lên có nghĩa đã hết cốt, nếu làn khói tỏa xuống, lởn vởn trong lòng huyệt có nghĩa là xương cốt của người chết chưa hết, cần phải kiểm tra lại.
– Dùng nước Vang để lau rửa sạch xương cốt và tiểu quách, dùng vải sạch thấm khô Cốt.
– Xếp các đồng tiền cổ (đồng trinh) vào trong đáy tiểu
– Trải giấy trang kim kín trong lòng tiểu (dán kín giấy trang kim toàn bộ các mặt trong lòng tiểu), để lại khoảng 2-5 tờ trang kim về sau trải lên trên. Để mặt kim quay vào trong long tiểu.
– Trải vải áo bọc cốt lên trang kim, để mở rộng ra sau đó xếp Xương Cốt thành hình lên vải áo. Có thể dùng một mảnh vải gấp lại để kê dưới xương sọ cho mặt hướng lên trên. Lưu ý phân biệt đầu và chân Tiểu, thường đầu có hình Thọ tròn còn chân có hình Thọ vuông.
– Để thất bảo và lá vàng, bạc vào cùng xương cốt, rồi gấp vải áo lại, để hở mặt của cốt.
– Đóng nắp Tiểu lại, trùm tấm vải gấm thêu hoa lên Tiểu rồi đặt vào trong Quách. Đặt theo đúng chiều đầu và chân của Quách.
– Sử dụng các nêm gỗ đã chuẩn bị sẵn để cố định chắc chắn Tiểu trong Quách.
– Cho đá thạch anh ngũ sắc vào quanh tiểu, khe giữa tiểu và quách. Có thể bớt lại 1/3 số đá Thạch Anh để về sau cho vào trong Huyệt trước khi lấp đất.
– Cuối cùng cho hoa cúc khô hoặc nhài khô lên trên rồi đóng nắp Quách lại.
8. Đặt và xây mộ :  đến giờ tốt thì ta đem chôn tại khu huyệt mộ mới sau khi hoàn thành thường thì sẽ tiến hành xây mộ, làm lễ tạ mộ và hàn long mạch
9.Lễ tạ mộ mới xây : Cũng quan trọng như những thủ tục truyền thống khác của người Việt trong ngày Tết, vì thế, bạn nhất định không được bỏ qua những việc như chuẩn bị hoa tươi, lễ vật cùng bài khấn…
Trước khi tạ mộ phải chuẩn bị, sắm toàn bộ lễ gồm có:
– Hương thơm Hoa tươi (hoa hồng đỏ): 10 bông. Trầu: 3 lá, Cau: 3 quả cành dài đẹp.
– Trái cây: 1 mâm to.
– Xôi trắng: 1 mâm bên trên bày gà luộc nguyên con (Thường chọn giò hoặc là trống thiến).
– Rượu trắng: 0,5 lít + Chén đựng rượu: 5 cái 10 lon bia + 2 bao thuốc lá + 2 gói chè (1 lạng/gói) 2 nến cốc màu đỏ dùng để thắp khi làm lễ.
– Phần mã : – 1 cây vàng hoa đỏ. – 5 con ngựa 5 màu (đỏ, xanh, trắng, vàng, chàm, tím) cùng với 5 bộ mũ, áo, hia ( loại to) cùng với đồ kèm theo ngựa là cờ lệnh, kiếm, roi. Mỗi ngựa trên lưng có 10 lễ vàng tiền (một lễ gồm có tiền xu, vàng lá, tiền âm phủ các loại…).
Có 4 đĩa để tiền vàng riêng
– 1 đĩa để 3 đinh vàng lá,
– 1 đinh xu tiền 1 đĩa có 1 đinh vàng lá,
– 7 đinh xu tiền 1 đĩa có 9 đinh vàng lá,
– 1 đinh xu tiền 1 đĩa có 1 đinh xu tiền.

Sau khi con cháu đã chuẩn bị xong vật lễ để cúng tạ mộ thì một người con trai, cháu trai trong gia đình, dòng họ đứng ra để đọc văn khấn tạ mộ. Bài văn khấn này là một cách giúp những người con, người cháu thể hiện lòng biết ơn đối với những người đã sinh thành, nuôi dưỡng, từng yêu thương họ hay người thân của họ. Cũng giống với văn khấn tạ đất thì văn khấn khi làm lễ tạ mộ mới xây xong dưới đây sẽ giúp cho những người con, người cháu thể hiện được lòng biết ơn đối với người đã sinh thành, nuôi dưỡng, từng yên thương họ hay người thân của họ.

Văn khấn tạ mộ tham khảo :
Nam mô a di đà phật!
Con kính lạy: – Quan đương xứ thổ địa chính thần – Thổ địa Ngũ phương Long mạch Tôn thần, – Tiền thần Chu Tước, Hậu thần Huyền Vũ, Tả thần Thanh Long, Hữu thần Bạch Hổ – Liệt vị Tôn thần cai quản ở xứ này.
Con kính lạy vong linh… Hôm nay là ngày…tháng…năm…, nhằm tiết ….. Chúng con là:…
Thành tâm sắm sanh phẩm vật, hương hoa phù tửu lễ nghi, trình cáo Chư vị Tôn Thần về việc lễ tạ mộ phần.
Nguyên có vong linh thân nhân của gia đình chúng con là:… hiện phần mộ an táng ở nơi này.
Đội ơn Chư vị Tôn thần che chở, ban ân, vong linh được yên ổn vui tươi nơi chín suối. Lại nhờ có duyên lành, gia đình chúng con được vong linh thường về ghé thăm, linh ứng giúp chỉ dẫn các công các việc được đầu xuôi đuôi lọt, nhờ thế toàn gia được an ninh khang thái, từng bước tiến bộ.
Nay nhằm ngày lành tháng tốt, gia đình chúng con sắm sửa lễ tạ mộ những mong báo đáp ân thâm, tỏ lòng hiếu kính.
Cúi xin Chư vị Tôn Thần lai giáng án tiền, nhận hưởng lễ vật, chứng minh tâm đức.
Cúi mong vong linh chấp kỳ lễ bạc, lời kêu tiếng khấn, tờ đơn cánh sớ, tùy phương ứng biến, độ trì toàn gia, từ trẻ tới già, luôn được vui tươi, mạnh khỏe.
Chúng con dâng biếu vong linh tài mã gồm : ….( đọc tên các đồ mã dâng cho vong) Âm dương cách trở, bát nước nén hương, giãi tấm lòng thành, cúi xin chứng giám.
Cẩn cáo.

Trên đây là những kiến thức được tổng hợp lại theo kinh nghiệm dân gian, theo phong tục cổ xưa, cũng có thể có những thiếu sót và không phù hợp với từng địa phương vì thế nên hỏi ý kiến thầy tâm linh phong thủy và tùy theo phong tục của từng địa phương mà làm. Tất cả những ý kiến đưa ra phải được sự thống nhất của mọi người trong gia đình, tránh mỗi người một ý mà ngây bất đồng tranh cãi, như vậy dù được sang áo mới thì người thân đã khuất cũng không được vui.

Bình luận trên Facebook